QUÀ TẶNG GIÁNG SINH

Mỗi mùa Giáng Sinh về, người ta thường tặng quà cho nhau, và có lẽ, bạn và tôi cũng tặng những món quà Giáng Sinh cho người thân và bạn bè, và đồng thời cũng nhận được từ họ những món quà Giáng sinh thật ý nghĩa! Thế nhưng, khi tặng quà và nhận những món quà Giáng Sinh, có khi nào bạn và tôi tự hỏi: tại sao người ta tặng quà cho nhau trong dịp Giáng Sinh không?

Người ta tặng quà cho nhau nhân dịp Giáng Sinh, chắc hẳn phải có ý nghĩa và lý do. Dựa vào Kinh thánh, ta thử tìm hiểu ý nghĩa và lý do đó là gì?

Tin mừng theo Thánh Luca thuật lại: “…. Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng sứ thần bảo họ: ‘Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ.’ Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng: ‘Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.’” (Lc 2, 8 – 14)

Qua đoạn Tin mừng trên, Thánh Luca cho chúng ta thấy, Ngôi Hai Thiên Chúa làm người chính là quà tặng mà Thiên Chúa ban cho nhân loại. Ngài là Đấng Cứu Độ. Ngài đến để đem sự bình an cho con người. Tuy vậy, con người có được sự bình an và hưởng được ơn cứu độ Ngài ban hay không là tùy vào thái độ đón nhận hay khước từ của con người.

Đâu là thái độ đón nhận hay khước từ của con người?

Tin mừng Thánh Matthêu thuật lại: “Khi Đức Giêsu ra đời tại Bêlem, miền Giuđê, thời vua Hêrôđê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem, và hỏi: ‘Đức Vua dân Do thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người.’ Nghe tin ấy, vua Hêrôđê bối rối, và cả thành Giêrusalem cũng xôn xao. Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu. Họ trả lời: “Tại Bêlem, miền Giuđê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: ‘Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ítraen dân Ta sẽ ra đời.’”

“Bấy giờ vua Hêrôđê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. Rồi vua phái các vị ấy đi Bêlem và dặn rằng: ‘Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người.’ Nghe nhà vua nói thế, họ ra đi. Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại. Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến. Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình.” (Mt 2, 1 – 12)

Tâm trạng bối rối của Hêrôđê thể hiện thái độ khước từ của ông, không muốn đón nhận quà tặng mà Thiên Chúa ban cho con người, Đấng Cứu Thế. Hêrôđê khước từ Đấng Cứu Thế, có lý do của ông. Ông đang làm vua, vậy mà bây giờ lại có một vị “Vua” khác sinh ra ngay trong thành Đavít, nơi ông đang làm vua. Đón nhận Đấng Cứu Thế cũng có nghĩa là ông chấp nhận từ bỏ ngai vàng. Ông không thể chấp nhận điều đó. Với tâm trạng bối rối và khước từ Đấng Cứu Thế, Hêrôđê trở nên hoang mang, tâm hồn trở nên bấn loạn, không có được sự bình an, và kết cục là ông đã hành xử một cách tàn bạo đối với các trẻ em ở Belem và các vùng lân cận (x. Mt 2, 16). Hêrôđê đã không đón nhận được quà tặng là Đấng Cứu Thế, cùng với sự bình an, và vì vậy, ông cũng không thể trở thành trung gian, để qua ông, Thiên Chúa tiếp tục ban tặng cho những người khác.

Trái với tâm trạng bối rối và thái độ khước từ của Hêrôđê, tâm trạng hân hoan vui mừng và thái độ sẵn sàng đón nhận Đấng Cứu Thế của các mục đồng và của các nhà chiêm tinh ở phương Đông đã làm cho họ trở thành sứ giả cho chính Tin mừng mà họ đón nhận. Nhận được tin báo của sứ thần, các mục đồng đã vội vã đến nơi Đấng Cứu Thế giáng sinh, và họ đã nhận được sứ điệp bình an từ trời: “vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2, 14), và rồi họ đã đem tin vui, tin bình an đó đến cho những người khác, để những người khác cũng đón nhận được tin bình an đó, với sự ngạc nhiên và vui mừng. “….. Đến nơi, họ gặp bà Maria, ông Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này. Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên.” (Lc 2, 15 – 18)

Còn các nhà chiêm, tuy không được chính sứ thần của Thiên Chúa báo tin, nhưng họ đã nhận ra Đấng Cứu Thế qua “ánh sao lạ”. Qua chính công việc của họ là những người tìm hiểu, nghiên cứu các tinh tú, các nhà chiêm tinh đã nhận ra sự xuất hiện của Đấng Cứu Thế, vị Vua bình an, và họ đã đón nhận với một tâm trạng hớn hở vui mừng. Tâm trạng đó được thể hiện qua thái độ sẵn sàng lên đường tìm kiếm, theo chỉ dẫn của “ánh sao lạ”. Sau khi trải qua biết bao khó khăn, gặp được Đấng Cứu Thế trong thân phận của một Hài Nhi, họ rất đỗi vui mừng, liền sấp mình thờ lạy Người, rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến (x. Mt 2, 10 – 12).

Qua tìm hiểu những đoạn Kinh thánh tường thuật về biến cố Giáng Sinh của Đấng Cứu Thế, ta nhận ra rằng, Đấng Cứu Thế chính là Vua của sự bình an. Ngài chính là quà tặng mà Thiên Chúa trao ban cho con người, để tất cả những ai đón nhận Ngài sẽ được hưởng niềm vui, sự bình an và ơn cứu độ từ Thiên Chúa; và đến lượt mình, sẽ là những sứ giả đem tin mừng đó đến cho những người khác. Đó là ý nghĩa và lý do người ta tặng quà cho nhau mỗi khi Giáng Sinh về.
Như vậy, tặng quà Giáng Sinh cho ai là, qua món quà đó, ta mong cho người đó có được niềm vui, sự bình an và hạnh phúc. Điều đó cũng có nghĩa là, chính ta, người tặng quà, phải là người đã có được niềm vui, sự bình an và hạnh phúc trong cuộc sống.

Thế nhưng, để đón nhận được niềm vui, sự bình an và hạnh phúc trong cuộc sống, chắc chắn ta không thể sống tâm trạng bối rối và thái độ khước từ Tin mừng của Thiên Chúa như Hêrôđê, mà phải là tâm trạng vui mừng, và thái độ sẵn sàng đón nhận và sống Tin mừng của Thiên Chúa như các mục đồng và các nhà chiêm tinh.

Những người có tâm trạng bối rối và thái độ khước từ Tin mừng của Thiên Chúa như vua Hêrôđê là những người luôn sống trong sự ghen tuông và ganh tị, thù hận và oán ghét. Đó là những người luôn sống trong sự ích kỷ, vụ lợi, chỉ biết lo cho mình, chỉ biết tìm thỏa mãn những nhu cầu của bản thân trong vũng lầy của những sa đọa. Đó còn là những người háo danh chỉ biết tìm danh vọng và củng cố quyền lực cho mình, bất chấp mọi thủ đoạn, bất chấp việc chà đạp lên quyền lợi, nhân phẩm và mạng sống của người khác. Những người như vậy thì không thể đón nhận được niềm vui, bình an và ơn cứu độ của Thiên Chúa. Họ không đón nhận được quà tặng từ Thiên Chúa là chính Đấng Cứu Thế, và rồi họ cũng không thể là trung gian, để qua họ, Thiên Chúa tiếp tục trao ban ơn cứu độ cho những người khác.
Còn những người có tâm trạng vui mừng, thái độ sẵn sàng đón nhận và sống Tin mừng của Thiên Chúa như các mục đồng và các nhà chiêm tinh là những người biết tôn trọng sự thật, tôn trọng những giá trị và phẩm giá của người khác. Họ là những người biết phụng sự Chúa trong mọi người, để rồi trở thành khí cụ bình an của Chúa, hầu đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, và đem chân lý vào chốn lỗi lầm. Họ là những người đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng, dọi ánh sáng vào nơi tối tăm, và đem niềm vui đến chốn u sầu. Hơn thế nữa, những người luôn sống trong tâm trạng vui mừng và thái độ sẵn sàng đón nhận và sống Tin mừng của Thiên Chúa còn là những người luôn biết tìm an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết, tìm yêu mến người hơn được người mến yêu. Và sau cùng, họ là những người luôn biết sống tha thứ, hiến thân, và quên mình để phục vụ, hầu tìm được chính mình trong sự tha thứ, hiến thân và quên mình phục vụ người khác (x. Kinh Hòa Bình của Thánh Phanxicô).

Hiểu được ý nghĩa và lý do của việc tặng quà Giáng Sinh như vậy, trong dịp lễ Giáng Sinh năm nay, bạn và tôi sẽ gởi đến người thân và bạn bè những món quà và những lời chúc trong tâm trạng và thái độ nào? Chúng ta trao gởi đến người thân và bạn bè những món quà và lời chúc Giáng Sinh trong tâm trạng vui mừng và thái độ sẵn sàng đón nhận và sống Tin mừng của Thiên Chúa như các mục đồng và các nhà chiêm tinh, hay trong tâm trạng bối rối và thái độ khước từ như Hêrôđê? Nếu là tâm trạng bối rối và thái độ khước từ như Hêrôđê thì món quà và lời cầu chúc của chúng ta gởi đến những người thân và bạn bè chỉ là những món quà vật chất vô hồn và những lời chúc sáo rỗng, chẳng có ích lợi gì cho họ.

Hãy trao tặng cho nhau những món quà và những lời chúc Giáng Sinh trong tâm trạng vui tươi và thái độ sẵng sàng đón nhận và sống Tin mừng của Thiên Chúa như các mục đồng và các nhà chiêm tinh. Được như vậy, mọi người trong mỗi cộng đoàn, trong mỗi gia đình sẽ hưởng được niềm vui, sự bình an và ơn cứu độ mà Ngôi Lời Nhập Thể đem đến, như là quà tặng của Thiên Chúa thương ban cho con người. Và như thế, trong mỗi cộng đoàn và trong mỗi gia đình sẽ luôn vang lời ngợi khen Thiên Chúa: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.”

Hương Quê

Viết Cho Bạn, Những người Chuẩn Bị Bước Vào Đời Sống Hôn Nhân GIA ĐÌNH – CỘNG ĐOÀN YÊU THƯƠNG

Bạn thân mến,

Có nhiều cách để diễn tả về Giáo hội đã được hình thành bởi các môn đệ của Đức Giêsu qua mọi thời đại cho đến ngày hôm nay. Có lẽ cách diễn tả tốt nhất là tuyên xưng rằng Giáo hội là cộng đoàn của những người yêu thương nhau, mà gia đình được xem như là một Giáo hội thu nhỏ. Như vậy, gia đình cũng chính là cộng đoàn yêu thương.

Nói gia đình là một cộng đoàn yêu thương, ta hiểu ngay là, trong gia đình, vợ chồng, cha mẹ và con cái sống yêu thương nhau, hy sinh cho và vì hạnh phúc của nhau, theo gương Chúa Giêsu, Đấng đã yêu thương chúng ta và hiến mạng sống vì chúng ta. Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta bằng một thứ tình yêu của người “hiến mạng vì bạn hữu” (x. Ga 15, 13). Nếu trong gia đình, vợ chồng, cha mẹ và con cái yêu thương nhau bằng thứ tình yêu như Chúa Giêsu đã yêu, thì chính loại tình yêu này “cắt nghĩa” tại sao các đôi vợ chồng có thể thề hứa ở với nhau trọn cả cuộc đời, mặc cho bất cứ chuyện gì xảy đến; cắt nghĩa tại sao cha mẹ có thể nuôi dưỡng con cái bằng cả sự kiên nhẫn và thông hiểu, không sá gì nhọc mệt.

Quả vậy, quyền năng của tình yêu Thiên Chúa và sự cởi mở đón nhận của người tín hữu gặp nhau đôi lúc mang những hiệu quả không thể tin đuợc. Lúc vợ chồng bày tỏ sự ưng thuận một cách công khai khi cử hành Bí tích Hôn phối, chính là lúc Thiên Chúa hiện diện “một cách bí tích” để liên kết vợ chồng trong tình yêu, làm cho tình yêu vợ chồng mang trọn vẹn ý nghĩa của tình yêu giữa Thiên Chúa và dân Ngài là chính Giáo hội.

Về tính chất bí tích, hôn nhân Kitô giáo có hai đặc điểm riêng làm cho khác với sáu bí tích kia:

– Trong thực tế, chính hai vợ chồng cử hành cho nhau. Vị chủ sự nghi lễ một cách chính thức thường là một linh mục (có thể có những luật trừ), đơn thuần ngài chỉ là một người làm chứng về điều đang xảy ra giữa hai vợ chồng tương lai.
– Vì bản tính năng động của hôn nhân Kitô giáo, vợ chồng vẫn là những “thừa tác viên của ơn bí tích” suốt cả cuộc đời. Trong khi giữ trung thành với những lời hứa, họ tiếp tục cử hành bí tích cho nhau. Hôn nhân quả thực là “quà tặng liên tục được trao ban”.

Khi vợ chồng ý thức về tình yêu sâu xa của Đức Giêsu dành cho mình, thì họ tìm kiếm cách tự do một loại tình yêu mà Đức Kitô yêu Giáo hội để bày tỏ cho nhau. Chúng ta có thể khẳng định rằng họ đã đạt đến “hôn nhân bí tích”. Tình yêu của họ là một tình yêu trung thành và độc hữu, và họ ao ước cho tình yêu ấy được trở nên phong nhiêu (Phong nhiêu là khả năng của một người tạo ra sự sống dồi dào, làm cho sự sống thêm phong phú, nảy nở. Nơi hôn nhân là sự truyền sinh, tạo ra sự sống của một con người mới. Không chỉ chú trọng đến chiều kích sinh học mà còn chú trọng đến chiều kích tinh thần, một sự kết hợp hài hòa thống nhất không thể tách lìa), bằng cách luôn sẵn sàng cho việc tạo thành những sự sống mới nhờ tính dục. Đôi vợ chồng đã lãnh nhận từ Thiên Chúa ân sủng và năng lực để có thể thực hiện những việc lạ lùng này của tình yêu. Bí tích hôn nhân làm cho họ biết yêu thương ở một mức độ sâu xa hơn. Và đến lượt mình, họ trở nên dấu chỉ cho điều còn lại của Giáo hội và của xã hội, về việc con người có thể cảm nghiệm được một tình yêu bao la và việc Thiên Chúa có thể làm những việc trọng đại qua con người chúng ta, nếu chúng ta biết mở rộng lòng mình cho quyền năng của Ngài một cách đầy đủ.

Một bí tích mang tính chất hỗ tương hôn nhân được cử hành trong nhà thờ không chỉ là một nghi lễ trong một nơi chốn xinh đẹp và xứng đáng, nhưng cần phải truyền thông điều gì đó về lịch sử của đôi vợ chồng và về niềm xác tín mà họ tin là quyền năng cao trọng hơn cả trong thế gian này bắt nguồn từ tình yêu Thiên Chúa. Hay nói cách khác, những lời hứa hôn nhân không những chỉ trao đổi vì lợi ích của đôi vợ chồng, nhưng được nói lên một cách công khai trước mặt Thiên Chúa và cộng đoàn như một lời công bố thánh thiện của đôi vợ chồng muốn sống chung với nhau suốt cả cuộc đời trước sự hiện diện của Chúa.

Trọng tâm của buổi cử hành là đôi vợ chồng, họ xác nhận một cách tự do và công khai lòng ao ước của họ sống trung thành “khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng nhau mọi ngày suốt đời”. Họ được kết hợp, nối liền và gắn bó với nhau suốt đời, cho dù trên thực tế, trong lúc họ kết ước với nhau, khi nói lên những lời hứa ấy, họ không biết chuyện gì sẽ chờ đợi họ trong tương lai.

Điều quan trọng là các bạn hãy học hỏi trước về phụng vụ lễ cưới, để nhận biết đúng ngôn ngữ và những biểu tượng mà đã đuợc thiết lập để làm cho cuộc cử hành trở thành của các bạn hơn. Trong nhiều trường hợp, các đôi tân hôn đã viết lên những lời hứa của họ. Chỉ sự hiểu biết Kitô giáo căn bản về hôn nhân cần được tôn trọng khi nói lên những lời hứa ấy. Thật vậy, trong hôn nhân Kitô giáo, chính hai bạn cử hành bí tích cho nhau chứ không phải Giáo hội, gia đình hay bạn hữu. Điều quan trọng không phải là nói gì với nhau, nhưng làm gì với và cho nhau và cho cả mọi ngày mà các bạn sẽ chung sống bên nhau.

Chúng ta hãy biết thêm rằng có một sự xác tín đặc biệt về hôn nhân trong Giáo hội, một sự sẵn sàng và một ý muốn đầu tư tất cả những năng lực để giúp cho tương quan tình yêu được tăng trưởng và kéo dài suốt cả cuộc đời. Tình yêu ấy từ đôi vợ chồng đã thành hôn sẽ chảy tràn đến con cái tương lai, đến mọi người trong gia đình và cả thế giới. Cái nhìn Kitô giáo về hôn nhân thấy trước một khung cảnh lớn lao của cuộc đời nói chung và những khả năng không thể tin được có thể xảy đến nhờ những đôi vợ chồng sống chan chứa tình yêu cho nhau.

Một vài gợi ý với ước mong rằng, các bạn thấy được những giá trị của hôn nhân Kitô giáo để nỗ lực sống ơn của Bí tích Hôn nhân mà các bạn sẽ bước vào, hầu xây dựng gia đình của các bạn sau này thành một cộng đoàn yêu thương, một Giáo hội thu nhỏ ngay trong chính gia đình nhỏ bé của các bạn.

Chúc các bạn hạnh phúc!

Hương Quê

Viết Cho Bạn, Những người Chuẩn Bị Bước Vào Đời Sống Hôn Nhân LINH ĐẠO HÔN NHÂN

Bạn thân mến,

Trong đời sống tu, những người tu phải sống theo linh đạo của đời tu để không bị lạc hướng. Cũng vậy, trong đời sống hôn nhân, để sống tốt đời sống vợ chồng và mưu cầu hạnh phúc, bạn cần phải sống theo theo một linh đạo mà ta gọi đó là Linh Đạo Hôn Nhân. Từ ngữ linh đạo được dùng để diễn tả phương cách mà Chúa Thánh Thần và thần trí của bạn gặp gỡ nhau trong thực tại hằng ngày của cuộc sống. Cách cụ thể, linh đạo là những cách thế bạn sử dụng thời giờ và năng lực, nhất là cách thế bạn yêu thương.

Theo truyền thống thì linh đạo chỉ nhắm đến những lãnh vực của đời sống được gọi là “đạo đức”, nghĩa là chỉ giới hạn vào việc cầu nguyện cá nhân và sự tham dự vào các việc đạo đức trong đời sống đạo. Nhưng trong hôn nhân, linh đạo, gồm cả những biến cố thường ngày của đời sống vợ chồng và những bộc lộ tình yêu quảng đại giữa vợ chồng, đều là những việc làm đạo đức. Điều đó có nghĩa là từng việc làm nhỏ bé – từ việc rửa bát chung với nhau đến sự sẵn sàng của một hay hai vợ chồng đi làm ăn xa để có thể giúp đỡ gia đình – đều làm nên một yếu tố quan trọng của linh đạo hôn nhân.

Việc phát triển một tương quan vợ chồng đặt nền tảng trên tình yêu đòi hỏi phải có quy luật và sự hy sinh. Thế nhưng, điều đó không có nghĩa là một trong hai người phải đóng vai trò làm vật hy sinh. Thật vậy, một người luôn nhường bước trước người khác có thể là dấu hiệu của một tình yêu không mấy lành mạnh. Trong hôn nhân cần phải có một sự tôn trọng sâu xa đối với cá tính của người khác, từ phía cả hai vợ chồng. Gìn giữ cho được một sự bình đẳng căn bản là một phần của linh đạo hôn nhân.

Mỗi người đều mang vào trong hôn nhân linh đạo riêng của mình, nhưng linh đạo của đôi vợ chồng cũng mở rộng đến những trực giác và những cách sống của người khác. Có một Thiên Chúa duy nhất và ý muốn của Ngài là hôn nhân làm cho vợ chồng nên một với nhau. Linh đạo không phải là một sức mạnh phân rẽ, nhưng là một năng lực và một sự hiện diện làm cho đôi vợ chồng kết hiệp với nhau một cách sâu xa hơn.

Bởi vậy, điều quan trọng là mỗi người trong các bạn phải làm cho người khác biết hành trình thiêng liêng của mình; sự đáp trả cho hành vi cởi mở ấy phải là tâm tình thán phục và tôn trọng: không bao giờ phê phán, chỉ trích hoặc phản đối.

Các bạn đang ở điểm khởi hành, đồng thời các bạn cũng đang trên vị thế dành cho một trong những cuộc hành trình quan trọng nhất của cuộc đời. Qua đời sống hôn nhân, các bạn không những loan báo cho những người khác là các bạn yêu nhau, mà qua đó chính Thiên Chúa tự tỏ mình trong tình yêu của các bạn. Nếu hôn nhân của các bạn quả thực là một hôn nhân “trong Đức Kitô”, thì các bạn sẽ cảm nghiệm được một cách cụ thể rằng, những “ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” 1Ga 4, 16).

Vậy, vợ chồng hãy “ở lại trong tình yêu của Thiên Chúa”, để cho Chúa Thánh Thần tác động và hướng dẫn cuộc hôn nhân của mình, hầu có được một linh đạo sống cụ thể trong đời sống hôn nhân, qua các việc làm và những hành vi vợ chồng đối với nhau. Được như vậy, các bạn sẽ tìm thấy và cảm nếm được niềm hạnh phúc và sự ngọt ngào của đời sống hôn nhân, cho dù có phải đối diện với những khó khăn.

Chúc các bạn hạnh phúc!

Hương Quê

Viết Cho Bạn, Những người Chuẩn Bị Bước Vào Đời Sống Hôn Nhân YÊU NHƯ CHÚA YÊU

Bạn thân mến,

Để hình thành và nuôi dưỡng một hôn nhân vững bền và hạnh phúc không phải là một việc làm dễ dàng. Nó đòi hỏi sự hiểu biết về chính mình và ý thức về người khác, thẩm định các giá trị và chấp nhận những khác biệt giữa người nam – người nữ, và sau cùng, nó cần một tình yêu bao la và sâu rộng như đại dương. Trong cuộc hành trình hôn nhân, bạn sẽ tìm gặp được sự trợ giúp từ gia đình và nơi các bạn hữu, nhưng phần lớn con đường của bạn, bạn sẽ phải đi qua một mình.

Nói là phần lớn cuộc hôn nhân bạn phải bước đi một mình, nhưng thực ra, có một ai đó hằng luôn quan tâm một cách sâu xa đến bạn và đến đời sống hôn nhân của bạn. Người đó chính Thiên Chúa, Đấng đã làm cho mỗi đôi vợ chồng trở nên duy nhất, Ngài luôn ở bên cạnh để nâng đỡ bạn trong lúc may lành cũng như trong lúc gặp phải thử thách. Ngài đồng hành với bạn để giúp bạn biết phải sống thế nào, hầu làm cho cuộc hôn nhân của bạn thực sự hạnh phúc. Đức Giêsu đã bảo đảm điều đó cho chúng ta khi Ngài hứa sai Chúa Thánh Thần đến giữa chúng ta. “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi” (Ga 14, 15-16).

Thiên Chúa đồng hành cùng chúng ta trong đời sống, qua sự hiện diện và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, nhưng với điều kiện chúng ta cần phải yêu mến Ngài bằng việc tuân giữ và sống những điều răn mà Chúa Giêsu đã dạy. Điều răn của Chúa Giêsu là: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15, 12-13).

Yêu không bao giờ dễ, và “yêu như Chúa yêu”, nghĩa là yêu đến độ phải “hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” lại càng không dễ chút nào. Đó là một trong những hành động khó khăn nhất của con người. Thế nhưng dù thế nào, để cho đời sống hôn nhân của bạn được hạnh phúc và đem hạnh phúc đến cho chồng hoặc vợ, bạn cần phải học biết yêu thương từ cách thế người khác yêu thương và được yêu thương bởi người khác, nhất là từ cách thế mà Chúa Giêsu đã yêu thương bạn.

Có lẽ bạn cho rằng Đức Giêsu không phải là người đã lập gia đình, làm sao có thể noi gương Ngài để sống tình yêu vợ chồng?! Nhưng tình yêu của Ngài đối với những người khác thật là trọn vẹn – tối đa – trong mọi lúc. Chính vì thế, tất cả mọi người đều có thể học biết yêu thương bằng cách theo gương Ngài và tìm thấy sự soi chiếu trong tình yêu của Ngài đối với mỗi người chúng ta.

Tóm lại, để hình thành và nuôi dưỡng một hôn nhân vững bền và hạnh phúc, vợ chồng cần phải nhìn vào tình yêu của Đức Giêsu như một mẫu mực, bởi vì tình yêu của Ngài là trao ban trọn vẹn cả sự sống, và hãy tuân giữ giới răn của Ngài như là phương châm cho đời sống vợ chồng: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.”

Chúc bạn hạnh phúc!

Hương Quê